Sứ mạng của thanhkinhthanhoc.net là trang bị cho tín nhân
một sự hiểu biết căn bản về Thánh Kinh để sống đạo và hầu việc Chúa

Một Quan Điểm Thánh Kinh Về Giáng Sinh


1. Dẫ
n nhập

Theo truyền thống Việt Nam, một tháng sau khi một đứa trẻ sinh ra, gia đình tổ chức mừng đầy tháng; một năm sau khi bé sinh ra, gia đình tổ chức mừng thôi nôi. Sau đó, các gia đình Việt Nam không tổ chức mừng sinh nhật hàng năm như người Tây phương. Việc tổ chức đầy tháng và thôi nôi rất hợp lý về mặt khoa học. Đó là vì bất kỳ vật nào: người, xe, dụng cụ điện tử, dụng cụ cơ khí, v.v., có tuổi thọ đều theo một quy luật gọi là “đường cong chậu tắm [1].” Đường cong này được thiết lập theo kinh nghiệm và được trình bày trong hình sau.

Sự Thật Về Christmas

"Các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời,
mà giữ lời truyền khẩu của loài người!"
(Mác 7:8)
 

Dẫn nhập 

Hàng năm, vào tháng 12, con dân Chúa khắp nơi tưng bừng tổ chức lễ Giáng Sinh. Giáng Sinh là nói tắt của "Chúa Giáng Sinh." Khi nói đến hai chữ Giáng Sinh thì mọi người biết ngay là nói đến sự kiện Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jesus Christ giáng thế, chịu sinh ra làm người để chết thay cho nhân loại tội lỗi. Nhờ sự chết thay của Đấng Christ mà Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội những ai tin nhận sự chết thay của Ngài. Nhờ được tha tội, được làm cho sạch tội mà người tin nhận Chúa được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời, được sự sống đời đời, và được hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12, 3:16, Khải Huyền 21:7). Ý nghĩa của sự kiện Chúa Giáng Sinh là như vậy.

Chuẩn Định Cách Dùng Từ Ngữ Trong Thánh Kinh Việt Ngữ


Ngoại trừ một phần rất ít [1] được viết bằng tiếng A-ra-mai (Aramaic), Thánh Kinh được viết bằng hai ngôn ngữ chính là tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew) và tiếng Hy-lạp (Greek). Từ các bản nguyên ngữ Thánh Kinh đã được dịch ra trên ba ngàn ngôn ngữ khác nhau [2], trong đó có tiếng Việt Nam. Bản dịch trọn bộ Thánh Kinh Việt ngữ đầu tiên do nhà văn Phan Khôi hoàn tất năm 1925 và phát hành năm 1926 [3]. Từ đó đến nay, đã có trên mười bản dịch Việt ngữ khác do các nhóm hay các cá nhân thuộc Công Giáo La-mã hoặc các Giáo Hội Tin Lành thực hiện. Nói chung thì dân tộc Việt Nam không thiếu các bản dịch Thánh Kinh. Tuy nhiên, có một thiếu sót chung cho tất cả các bản dịch Việt ngữ là không có sự chuẩn định cách dùng từ ngữ trong Thánh Kinh Việt ngữ.

Ý Nghĩa Các Phép Báp-tem Trong Thánh Kinh


Từ ngữ báp-tem trong nguyên ngữ Hy-lạp (Greek) của Thánh Kinh là:
βαπτίζω  được chuyển ngữ thành baptizō với ký hiệu phát âm bap-tid'-zo và được dịch thành baptism trong Anh ngữ. Từ ngữ báp-tem chỉ được dùng trong phần Tân Ước của Thánh Kinh với tổng số 80 lần bao gồm các hình thức danh từ và động từ. Nguyên nghĩa của báp-tem là ngâm, nhúng hoàn toàn một vật vào trong một chất lõng. Trong văn hóa Hy-lạp: Ngành nhuộm dùng từ ngữ báp-tem chỉ việc nhúng một khúc vải vào trong chậu thuốc nhuộm để thay đổi màu sắc của khúc vải; Ngành y dùng từ ngữ báp-tem để chỉ việc nhúng, ngâm tay hay chân vào trong một dung dịch thuốc để chữa bệnh. Trong các nghi thức tôn giáo, từ ngữ báp-tem được dùng để chỉ việc trầm mình trong nước, thanh tẩy thân thể, dọn mình ra mắt thần linh. Tuy nhiên, khi được dùng trong Thánh Kinh, từ ngữ báp-tem mang lấy những ý nghĩa riêng biệt, độc đáo.

Công Tác Phiên Dịch và Giảng Giải Thánh Kinh

 

Dẫn nhập

Thánh Kinh - Lời của Đức Chúa Trời giải bày chính Ngài cho nhân loại trải qua mọi thời đại - được viết từ nhiều ngàn năm trước trong nhiều bối cảnh văn hóa khác nhau bởi ba ngôn ngữ cổ, là: tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng Hy-lạp, và tiếng A-ra-mai. Đối với thế giới hiện đại, Thánh Kinh nhiều khi trở thành khó hiểu ngay trong chính thứ ngôn ngữ đã được dùng để viết Thánh Kinh. Lý do là: ngôn ngữ  lẫn văn hóa đều biến đổi theo thời gian. Chính vì thế, việc phiên dịch Thánh Kinh sang một ngôn ngữ khác đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn về ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử. Trên hết những điều đó, điều quan trọng không thể thiếu nơi người làm công tác phiên dịch, là tấm lòng trong sạch, sống thánh khiết theo Lời Chúa, hoàn toàn đầu phục sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh.

Thành Ngữ Trong Thánh Kinh

 

Dẫn nhập

Thành ngữ là một nhóm chữ được dùng chung với nhau để tạo ra một nghĩa mới khác với nghĩa riêng của từng chữ trong nhóm. Một thành ngữ không thể được giải thích theo nghĩa đen nhưng phải được hiểu theo nghĩa bóng. Nghĩa bóng này, nhiều khi hoàn toàn trái ngược với nghĩa đen của những chữ được dùng để tạo nên thành ngữ. Thành ngữ được hình thành dựa trên văn hóa - tức là thói quen trong suy nghĩ, trong nếp sống của một nhóm người - hơn là dựa trên ngôn ngữ, cho nên ít khi thành ngữ có thể vượt qua biên giới của ngôn ngữ để đi vào một nền văn hóa khác.

Người Việt Nam chúng ta ai cũng quen biết lối nói "dễ ghét" hay "khó ưa" được dùng để diễn đạt tình cảm "quá thương""quá thích." Người mẹ nựng con có thể nói: "Con của mẹ dễ ghét quá!" mà ai cũng hiểu bà muốn nói: "Con của mẹ dễ thương quá!" Một người con gái có thể nói với người yêu: "Anh khó ưa quá!" mà ai cũng hiểu cô ta muốn nói: "Em rất thích anh!" Đó là những thành ngữ trong tiếng Việt.

Sự Đoán Xét Của Đức Chúa Trời Dành Cho Thế Gian Hư Mất


1- Dẫn nhập

Hầu hết mọi người trong thế gian đồng ý rằng sau khi chết có ít nhất hai chỗ dành cho linh hồn: một là chỗ “tốt” dành cho các “thánh nhân,” hai là chỗ “xấu” để giam nhốt những linh hồn ác độc. Còn một chỗ thứ ba nữa mà mọi người không nói ra, nhưng đều đồng ý trong im lặng, là một nơi lưng chừng, không xấu không tốt, không hoàn toàn thiện, nhưng cũng không hoàn toàn ác, là nơi mà đại đa số mọi người sẽ đi vào sau khi chết. Những linh hồn đi vào cõi thứ ba này vẫn còn có cơ hội để vào chỗ “tốt,” nhờ tiếp tục tu tập, "ăn hiền ở lành" hoặc một cơ may nào đó.

Không ai có khái niệm rõ ràng chỗ thứ ba này như thế nào. Nó tồn tại vì mọi người đều suy nghĩ rằng ít có ai quá “thánh” để vào chỗ “tốt” và ít có ai quá ác độc để phải bị đọa vào trong chỗ “xấu.” Do vậy, phải tồn tại một nơi để “tôi” là người “trung bình” đi vào sau khi chết. Trong thế giới thứ ba không rõ này, “tôi” sẽ không được hạnh phúc như trong chỗ “tốt,” nhưng cũng không phải chịu hình phạt như ở trong chỗ “xấu.”

Chung Thời Học (1): Sự Cất Lên - Bản cập nhật


Chung Thời Học: (1) Sự Cất Lên

 

I- Dẫn nhập

Các tôn giáo và tín ngưỡng trong thế gian không ít thì nhiều đều có khái niệm về sự tận thế. Môn nghiên cứu về sự tận thế gọi là eschatology trong Anh ngữ, bắt nguồn từ tiếng Hy-lạp: ἔσχατος (eásxatov /es'-khat-os/) có nghĩa là sự cuối cùng. Chúng tôi dịch eschatology là "Chung Thời Học" tức là bộ môn thần học về những điều sẽ xảy ra trong "những ngày cuối cùnga." Thánh Kinh dùng cụm chữ này để gọi chung khoảng thời gian từ khi Đức Thánh Linh giáng lâm trên Hội Thánh cho đến khi Đấng Christ tái lâm (Công Vụ 2:17, Giô-ên 2:28; Hê-bơ-rơ 1:2). Như vậy, thời kỳ của "những ngày cuối cùng" cho đến nay đã kéo dài gần hai ngàn năm. Còn cụm chữ "sự chung thờib"  hoặc "sự cuối cùngc" được dùng để gọi chung những sự kiện sẽ xảy ra trong khoảng thời gian rất ngắn liền trước và sau sự kiện Đấng Christ tái lâm (Ma-thi-ơ 13:39, 40, 49; 24:3, 6, 14; 28:20; Mác 13:7; Lu-ca 21:9; I Cô-rinh-tô 15:24; I Phi-e-rơ 4:7).

Ba-by-lôn cổ

 

Lược sử và những lời tiên tri trong Thánh Kinh

về Ba-by-lôn cổ


Dẫn nhập


Ba-by-lôn (Babylon) là một thành phố cổ tọa lạc trên bình nguyên phì nhiêu giữa hai con sông Hi-đê-ke (Tigris) và Ơ-phơ-rát (Euphrates) thường được gọi là vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia = vùng đất giữa hai con sông), thuộc miền Nam Iraq ngày nay. Theo sử liệu thì Ba-by-lôn được xây dựng vào thế kỷ thứ 33 trước Công Nguyên (TCN), tức là cách nay khoảng 5300 năm. Danh xưng Ba-by-lôn trong tiếng Việt được phiên âm từ "Babylon" trong tiếng Hy-lạp (Greek). Ba-by-lôn trong nguyên ngữ tiếng Akkadian là "Babilu" và có nghĩa là "cổng Trời". Tiếng Akkadian là ngôn ngữ thông dụng của đế quốc A-si-ry (Assyria) và Ba-by-lôn thời cổ.

Chung Thời Học (2): Ba-by-lôn lớn

 

Dẫn nhập

Thành phố Ba-by-lôn, được đề cập trong Thánh Kinh, nằm trên một vùng đất cách thủ đô Baghdad của Iraq khoảng 90km về phía Nam. Trong lịch sử nhân loại, nó là thành phố quan trọng thứ nhì, chỉ đứng sau Giê-ru-sa-lem. Theo Thánh Kinh, Ba-by-lôn là thủ phủ của đế quốc đầu tiên của loài người (Sáng Thế Ký 10:10). Đó cũng là nơi có tháp Ba-bên, là công trình đầu tiên của loài người, thể hiện tinh thần hiệp một chống nghịch Đức Chúa Trời. Bởi biến cố đó mà Đức Chúa Trời đã làm lộn xộn ngôn ngữ của loài người và phân tán họ đi khắp đất (Sáng Thế Ký 11). Trong hành trình phân tán đó, loài người đem tư tưởng chống nghịch Đức Chúa Trời, thờ lạy thần tượng gieo rắc khắp nơi. Chúng ta gọi sự chống nghịch Đức Chúa Trời đó là tinh thần Ba-by-lôn. Tinh thần Ba-by-lôn thể hiện trong văn hoá, phong tục, và tôn giáo của loài người. Thành phố Ba-by-lôn vì vậy được xem là hang ổ và là cái nôi của sự chống nghịch Đức Chúa Trời, thờ lạy hình tượng. Sau này, nó trở thành thủ phủ của đế quốc Ba-by-lôn, vào thế kỷ thứ 6 TCN, đã đánh chiếm, hủy diệt Giê-ru-sa-lem và bắt dân Y-sơ-ra-ên lưu đày trong 70 năm. Sự việc Giê-ru-sa-lem thất thủ vào tay đế quốc Ba-by-lôn và dân sự bị lưu đày qua Ba-by-lôn được các đầy tớ Chúa là Ê-sai và Giê-rê-mi tiên tri từ trước.

 

Sự khôn ngoan kín dấu


"Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao!
Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan. Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài."
(Thi Thiên 104:24)

 

1-    Mắt của con Jellyfish:

Tập báoa khoa học Natureb vào năm 2005 có bài báoc về một phát kiếnd sinh học của một nhóm khoa học gia người Thụy Điển về một loài sinh vật dưới biển có tên là Cubozoans, hay thường gọi là box jellyfish [1]. Loài cá này hình vuông, có bốn cụm mắt, mỗi cụm ở một mặt. Trong mỗi cụm mắt có hai cặp mắt: một cặp phía trên và một cặp phía dưới. Các khoa học gia cho rằng loài sinh vật đơn giản jellyfish này có các con mắt được tiến hoá từ một khí cụ cảm nhậne đơn giản hơn, đáng lẽ chỉ có trong loài vật đơn giản này.

Hội Thánh Của Đức Chúa Trời

Dẫn nhập
Mỗi ngày trôi qua là lịch sử của nhân loại nhích lại gần với giờ tận thế hơn. Trên con đường không thể đảo ngược đó, Cơ-đốc nhân thấy xuất hiện trong các giáo phái Đối Khánga và Tin Lànhb lắm hiện tượng gây thật nhiều bối rối. Điển hình là có một số Cơ-đốc nhân được người chăn khuyến khích làm chứng cho người Công Giáo, trong khi một số khác nghe người chăn gọi Giáo hội Công Giáo là Hội Thánh. Một số tín đồ nghe thống kê rằng tại Việt Nam có khoảng 2% dân số là Cơ-đốc nhân, nhưng có số khác nghe rằng trong số những người “tin Chúa” tại Việt Nam có khoảng tám triệu là người Công Giáo. Có một tổ chức “Tin Lành” nọ liệt kê nhà thờ Đức Bà tại Sài-gòn là một “Hội Thánh" (địa phương) nữa. Như vậy, nếu chỉ được cho phép trả lời “Phải” hay “Không” thì người Cơ-đốc nên trả lời như thế nào cho câu hỏi sau đây: Sự thờ phượng của người Công Giáo trong hệ thống Vatican có phải là sự thờ phượng Đức Chúa Trời của Hội Thánh? Hay hỏi cách đơn giản hơn, phải chăng Giáo hội Công Giáo La-Mã là một phần của Hội Thánh? Chỉ một câu trả lời cụt ngũn “phải” hay “không” đó có thể nói lên một rừng quan điểm thần học về Hội Thánh của một người. Câu trả lời đó quyết định hành động của một tín nhân trong khi đi khắp thế gian làm chứng về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ. Nếu Giáo Hội Công giáo là Hội Thánh, thì không cần thiết phải làm chứng về Tin Lành cứu rỗi cho họ nữa mà chỉ cần huấn luyện môn đồ. Nếu họ chưa phải là Hội Thánh thì không thể nói về họ như là một phần của Hội Thánh. Còn có nhiều chuyện gây bối rối khác như: có người tự xưng mình là “Cơ-đốc nhân,” đi “nhà thờ,” dâng phần mười, nhưng không tin Thánh Kinh là lời Đức Chúa Trời, không tin Đức Chúa Jesus là Cứu Chúa Duy Nhất, v.v. Cũng có người vừa tin mình là con Đức Chúa Trời, nhưng cũng tin thêm mình là Con Rồng Cháu Tiên nữa. Đây chỉ là những trường hợp tiêu biểu nhưng cũng đủ làm cho người ta phải nhức đầu vì chữ nghĩa. 

Một quan điểm về sự đau khổ

1- Dẫn nhập:
Lễ Tạ Ơn bắt nguồn từ những di dân Âu Châu lập nghiệp trên Tân Thế Giới (Châu Mỹ). Đời sống của họ trên đất mới rất khổ nhọc vì thời tiết, bệnh tật; đồng ruộng, nông trại, nhà cửa phải xây dựng lại từ đầu. Tuy vậy, vào cuối mùa gặt hái, di dân có một buổi lễ để cảm tạ Đức Chúa Trời vì những gì họ gặt hái được trong vụ mùa vừa qua. Họ làm điều này hàng năm nhưng vẫn chưa chính thức dành riêng ra một ngày để tạ ơn Đức Chúa Trời cho đến năm 1863. Vào năm đó, trong khi nước Mỹ đang có nội chiến Nam Bắc, Tổng Thống Abraham Lincoln công bố ngày thứ năm thuộc tuần lễ chót, của tháng 11 là ngày Lễ Tạ Ơn của quốc gia, nghĩa là toàn quốc phải nghỉ làm việc để kỹ niệm nó. Từ đó đến nay, hàng năm cứ đến ngày đã định, toàn nước Hoa Kỳ nghỉ việc để tạ ơn Đức Chúa Trời vì những của cải vật chất Ngài đã ban cho trong năm qua. Mặc dù ngày Lễ Tạ Ơn bắt nguồn trong đức tin vào Đức Chúa Trời, càng ngày nó càng mất đi ý nghĩa. Dần dần, nó biến thành một ngày "thương mãi" như ngày lễ Giáng Sinh, khi mọi người lợi dụng dịp hạ giá để mua sắm thoả thích. Con người càng thích mua sắm chừng nào càng dễ quên sự ban ơn của Đức Chúa Trời chừng đó. Sự biến chất của ngày Lễ Tạ Ơn có thể do lòng con người đối với Đức Chúa Trời càng ngày càng nguội lạnh; cũng có thể vì đất nước Mỹ là đất nước của di dân, mà có rất nhiều di dân đến từ các nền văn hoá không biết đến Đức Chúa Trời, nên chẳng biết phải tạ ơn ai.

Tam Giáo: Hòa nhi bất đồng

Dẫn nhập

Thánh Kinh dạy rằng: "Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao?" (A-mốt 3:3). Như vậy, muốn đồng hành thì hai người cần phải đồng thuận. Không thể đồng hành nếu không có sự đồng thuận. Sự đồng thuận là mẫu số chung. Khi có chung mẫu số thì có thể bù trừ cho nhau để cùng tồn tại. 

Thần Học Tê-rê-sa


1- Dẫn nhập:

Nữ tu Tê-rê-sa, lãnh giải Nô-ben hòa bình vào năm 1979, được nhiều người trên thế giới, kể cả một số Cơ-đốc nhân trong vị trí lãnh đạo ngưỡng mộ và đề cao như là một Cơ-đốc nhân gương mẫu [1,2]. Bà được gọi bằng Mẹ, có lẽ vì bà sáng lập và quản nhiệm một giòng tu mới tại Ấn Độ. Bà nỗi tiếng trênthế giới vì Mục Vụ Tình Yêua do bà sáng lập và điều hành. Đây là mục vụ giúp đỡ và chăm sóc người nghèo khó, tàn tật, bịnh hoạn, vô gia cư. Sau khi qua đời vào năm 1997, bà được Giáo Hoàng John Paul II phong hạnhb, tức là được tuyên bố là người được Phước Hạnh. Đây là bước đầu tiên của tiến trình phong thánhc , tức là được tuyên bố là “thánh nhând.”